Lễ hội Thái Bình
Thái Bình là đất của các di tích lịch sử, do vậy cũng có rất nhiều lễ hội truyền thống cùng các trò chơi, điệu múa dân gian đặc sắc. Vốn là một vùng nông nghiệp lúa nước lâu đời nên các lễ hội Thái Bình mang đậm màu sắc văn minh lúa nước, có bốn xu hướng chính, chủ yếu là lễ hội tái hiện cuộc sống nhà nông; lễ hội tôn vinh các anh hùng dân tộc, người có công với quê hương ;tái hiện phong tục, tín ngưỡng; thi tài, vui chơi giải trí.
Thái Bình là một vùng nông nghiệp lâu đời, điều kiện tự nhiên thuận lợi, cư dân quần tụ đông đúc trong các làng và sống khá khép kín, đây là tiền đề cho các công trình kiến trúc tín ngưỡng tôn giáo phát triển rất sầm uất. Mặt khác, do cư dân với nguồn gốc rất đa dạng nên lễ hội ở Thái Bình có sự hỗn dung nhiều tập tục, loại hình văn hóa văn nghệ dân gian từ các vùng miền khác nhau: ở hội làng Quang Lang - một làng ven biển có trò múa Ông Đùng Bà Đà cổ xưa gắn liền với nghi lễ phồn thực sơ khai nguyên thủy; ở làng Vọng Lỗ (Quỳnh Phụ) nằm ở giữa miền đồng bằng lại có dấu ấn của khu rừng nguyên sinh và hội làng vẫn duy trì tục đánh hổ,... Với ba mặt giáp sông, một mặt giáp biển, những làng lớn ven sông biển của Thái Bình thưởng mở hội lớn, đặc biệt là hội đền như đền Chòi, đền Cửa Lân, đền Đồng Bằng,.. Ở các hội đền này thường tụ tập hầu bóng từ nhiều nơi trong nước đổ về.
Hiện Thái Bình còn khoảng 1400 công trình kiến trúc cổ gồm đình, chùa, đền miếu, phủ điện,... và hơn 100 hội làng truyền thống, phổ biến là các lễ hội nông nghiệp với các nghi lễ liên quan đến nghề nông, trồng dâu nuôi tằm, đánh cá làm muối. Các lễ hội về các đề tài lịch sử, tôn vinh anh hùng dân tộc cũng khá phổ biến trong các hội. Các hình thức đua tài, giải trí, các trò chơi dân gian ở Thái Bình có nét riêng so với cả nước và ngay ở từng hội làng cũng có nét khác biệt.
Cho đến những năm cuối thế kỷ XX, Thái Bình còn gìn giữ được trên 200 lễ hội. Nhiều lễ hội vẫn giữ được các trò chơi và nghi lễ truyền thống mang đậm bản sắc nền văn minh sông Hồng như: múa ông Đùng bà Đùng ở lễ hội Quang Lang, múa giáo cờ giáo quạt,...
Thái Bình quanh năm vui hội
Trừ hai tháng đông tang thời vụ là tháng năm và tháng mười ít làng có hội, quanh năm suốt tháng ở Thái Bình không có hội làng này thì có hội làng kia. Để chuẩn bị vào hội, nhiều nghi thức tế lễ, trò chơi, thi tài phải chuẩn bị trước hàng tháng thậm chí cả năm như: nuôi lợn để vào hội thị lợn lềnh, nuôi trâu để vào hội chọi trâu, tập bơi chải, vật,...
Lễ hội thường tổ chức ít nhất ba ngày, có ngày khai hội, ngày chính hội và ngày rã hội. Suốt ba tháng mùa xuân hội hè liên miên, hết hội gần đến hội xa.
Tháng giêng là tháng ăn chơi,
Tháng hai cờ bạc tháng ba hội hè...
Vào tháng tư và tháng chín cũng có nhiều hội lớn như hội đền Đồng Xâm, hội làng Quang Lang,..Có lẽ theo mùa vụ, vào hai tháng này là lúc lúa đỏ đuôi, người nông dân vui hội xong để bước vào mùa gặt hái.
Lễ hội nông nghiệp
Cả phần lễ và hội trong các lễ hội mang đậm sắc thái lễ hội nông nghiêp. Tục rước nước trong các hội Tiên La, Bổng Điền, Quang Lang,.. phổ biến trong lễ hội nông nghiệp ở Đông Nam Á; chùa Keo có tục chèo chải cạn để kết thúc hội; hội làng Miên có trò bách nghệ hay còn gọi là trò tứ dân sĩ nông công cổ... Trong các nghi lễ tế rước tôn vinh công đức thành hoàng làng, các vị thần hầu như đều có nhắc tới sự tích giúp dân mở làng lập ấp, phát triển nông tang...
Lễ hội làng nghề
Làng nghề ở Thái Bình rất đa dạng và rất nhiều nhưng lễ hội trình nghề có số lượng không nhiều và ít được duy trì, có thể kể đến hội làng Hới trình nghề dệt chiếu, làng Long Bối trình nghề dệt vải, hội làng Quang Lang trình nghề đánh bắt cá trên biển,... Hội ở làng nghề thường gắn với tục thờ tổ nghề, như hội làng Hới thờ Phạm Đôn Lễ - người có công mở mang nghề dệt chiếu cho dân làng, hội làng Đồng Xâm thờ Nguyễn Kim Lâu - người có công mở mang nghề kim hoàn, hội làng Quang Lang thờ bà chúa Muối, hội làng Đông Hồ thờ tổ nghề mộc,... Lễ hội còn là dịp để các làng trưng bày giới thiệu các sản phẩm với du khách.
Danh sách các lễ hội ở Thái Bình
|
STT |
Tên lễ hội |
Địa điểm |
Ngày |
Nguồn gốc |
Nội dung |
|
1 |
Gòi |
Điệp nông,Hưng Hà |
2/1 |
Du xuân |
Đấu vật, đánh cờ |
|
2 |
Lơ |
Vũ hội, Vũ Thư |
3/1 |
Du xuân |
Tung kén, giáp sát, khuyên trò, chúc Thánh. |
|
3 |
La Vân |
Quỳnh hồng, Quỳnh Phụ |
4/1 |
Tục thờ Nguyễn Minh Không (quốc sư triều Lý) |
Trò Sĩ - Nông - Công - Thương |
|
4 |
Keo |
Duy nhất, Vũ Thư |
4/1 |
Thờ sư Không Lộ |
Hội xuân: thi bắt vịt, ném pháo, thổi cơm. Hội thu: rước nhang án, long đình, thuyền rồng và tiểu đỉnh, đua trải sông Hồng, thi thày đọc, lễ Thánh trong chùa,.. |
|
5 |
Thượng Liệt |
Đông Tân,Ðông Hưng |
5/1 |
Thờ công chúa Quí Minh thời Trần |
Múa giáo cờ - giáo quạt |
|
6 |
Dương xá |
Tiến đức,HưngHà |
5/1 |
Thờ Trần nhật hiệu |
Tế cá, làm cỗ cá. |
|
7 |
Lạng |
Song lãng, Vũ Thư |
6/1 |
Thờ Đỗ Đô (thiền sư thời Lý) |
Rước kiệu, rắc hoa, lễ Phật cúng hoa "Khai bát trí thực", "Thông hành tịnh trùy"; thi sắp cỗ, võ, vật. |
|
8 |
Hới |
Tân lễ ,HưngHà |
6/1 |
Thờ Phan đôn lễ |
Rước kiệu, thị dệt chiếu, nấu cơm, bắt trạch. |
|
9 |
vua Rộc |
Vũ An, HưngHà |
6/1 |
Thờ viên tướng phương bắc tử trận |
Đền đặt giữa khu rừng nguyên sinh nhỏ. |
|
10 |
Tô xuyên |
An mỹ , Quỳnh Phụ |
6/1 |
Thờ Hưng nghĩa |
Bày xôi, oản hình mặt trăng, mặt trời, bắt rắn. |
|
11 |
Ngừ |
Hiệp hòa, HưngHà |
7/1 |
|
|
|
12 |
Hét |
Thái Thượng,Thái Thụy |
8/1 |
Thờ Phạm Ngũ Lão, danh tướng nhà Trần |
Thi vật cầu, các trò mang sắc thái cư dân vùng biển. |
|
13 |
Phượng Vũ |
Minh Khai, Vũ Thư |
9/1 |
thờ thiền sư Từ Đạo Hạnh (thời Lý) |
Tế lễ Phật, rước kiệu quay, kiệu bay. |
|
14 |
An điện, Đồng đại |
Đồng thanh, Vũ Thư |
10/1 |
Xuất xứ hát chèo |
Hát chèo 3-4 ngày, bán hàng |
|
15 |
Tử Các |
Thái hòa,Thái Thụy |
10/1 |
Thờ Lý Nam Đế |
Lễ tế ( ngày sinh, mất, thắng trận); vui chơi |
|
16 |
Thiên Quý |
Đông Xuân,Ðông Hưng |
10/1 |
thờ Phật |
có hệ thống tượng La Han độc đáo nhất Thái Bình. |
|
17 |
Gạch |
Đông Xá,Ðông Hưng |
10/1 |
thờ Phật |
rước, tế, lễ Phật và các trò chơi |
|
18 |
Xuân La |
Quỳnh Xá, Quỳnh Phụ |
15/1 |
thờ hai vị tướng thời Trần |
thi vật cầu, vật lão, đánh đu, đánh gậy,.. |
|
19 |
Trò nhời - Pháo đất |
Thăng long, Ðông Hưng |
15/1 |
Du xuân |
Ngày: thi pháo đất; Đêm: hát trò nhời. |
|
20 |
Long Bối |
Đông Hợp, Ðông Hưng |
4/2 |
thờ Đông Hải Đại Vương |
trình nghề dệt vải |
|
21 |
An Cố |
Thụy an,Thái Thụy |
10/2 |
Thờ Thành hoàng |
Tế, lễ, nhiều trò chơi dân gian. Là ngôi đình cổ nhất còn lưu giữ được ở Thái Bình. |
|
22 |
Bổng điền |
Tân lập, Vũ Thư |
14/2 |
|
Rước Thánh, rước nước cầu may. |
|
23 |
Đông Linh |
An Bài, Quỳnh Phụ |
14/2 |
thờ Phạm Bôi |
xưa có múa kéo chữ, múa bát dật (chưa khôi phục) |
|
24 |
Thượng Phúc |
Quang Trung,Kiến Xương |
15/2 |
thờ Đoàn Thượng |
hát chèo, ca trù,.. |
|
25 |
chùa Bồ |
thị xã ,Thị Xã |
7/3 |
thờ Phật, Mẫu, Trần Lãm, Hai Bà Trưng |
lễ Phật. |
|
26 |
Miếu Hai Thôn |
Xuân Hòa, Vũ Thư |
9/3 |
thờ Lý Bí và hoàng hậu Đỗ Thị Khương |
thi cờ người, hát giao duyên,.. |
|
27 |
Đền Hệ |
Thụy Ninh,Thái Thụy |
10/3 |
thờ các vị thiên thần có công phò trợ đánh giặc |
rước nước, hát chèo,.. |
|
28 |
Cổ Dũng |
Đông La, Ðông Hưng |
10/3 |
thờ thần linh và tướng lĩnh giúp nhà Đinh dựng nướ |
|
|
29 |
Ngải Đông, Ngải Đoài |
Bình Minh,Kiến Xương |
10/3 |
thờ công chúa đời vua Hùng thứ 17 |
xưa có múa lân, câu rùa, đi cầu phao (chưa khôi phục). |
|
30 |
Cửa Lân |
Đông Minh, Tiền Hải |
10/3 |
thờ Đại càn thánh mẫu |
rước nước |
|
31 |
Phụng công |
Quỳnh hội, Quỳnh Phụ |
15/3 |
|
Trò chơi kéo chữ, diễn trận |
|
32 |
Tiên la |
Đoan hùng,Hưng Hà |
16/3 |
Thờ Bát nạn tướng quân thời Hai Bà Trưng |
Đấu võ, đấu gậy, diễn trận, bơi trải, đánh cờ, múa kéo chữ |
|
33 |
Lộng khê |
An khê, Quỳnh Phụ |
21/3 |
thờ Dương Không Lộ và Lý Thường Kiệt |
múa bát dật, múa trắc, đốt cây đình liệu, thi thả diều,... |
|
34 |
Sáo đền |
Song an, Quỳnh Phụ |
24/3 |
|
Thi bắt vịt, bắt trạch, thổi cơm, vật, võ, rước đền, hát chèo, thả diều. |
|
35 |
Hậu Trung, Hậu Thượng |
Bạch Đằng, Ðông Hưng |
25/3 |
thờ Lý Bí và Hoàng hậu |
nghi thức tế lế. |
|
Kiến Xương |
36 |
Đồng xâm , Hồng thái, Kiến Xương |
1/4 |
Bơi chải, vui chơi |
Thờ Nguyễn Kim lâu |
|
37 |
Phất Lộc |
Thái Giang,Thái Thụy |
1/4 |
thờ Bảo Hoa công chúa thời Trần |
|
|
38 |
Đợi |
Đông Hải, Quỳnh Phụ |
10/4 |
thờ Quý Minh đại vương |
đua thuyền(chưa khôi phục). |
|
39 |
Quang lang |
Thụy hải,Thái Thụy |
14/4 |
|
Rước ông Bùng - bà Đà, rước nước cầu cá |
|
40 |
Vọng Lỗ |
An Vũ, Quỳnh Phụ |
28/4 |
thờ 5 thành hoàng |
múa bệt và hát tuồng |
|
41 |
Phú hiếu |
Độc lập, Hưng Hà |
14/6 |
|
Rước nước, múa rồng, hát chèo |
|
42 |
Chòi |
Thụy Trường,Thái Thụy |
10/7 |
thờ Đông Công, Điển Công linh thần |
bắt vịt, rước nước |
|
43 |
Miếu Ba Thôn |
Thụy Hải, Thái Thụy |
12/7 |
thờ Nguyễn Cang |
rước nước ngoài biển |
|
44 |
Ngọc Quế |
Quỳnh Hoa, Quỳnh Phụ |
8/8 |
thờ Đỗ Huyền, danh tướng thời Trần |
thi pháo đất |
|
45 |
Vũ lăng |
Vũ lăng,Tiền Hải |
10/8 |
|
Đắp thành đất |
|
46 |
Hiệp Lực |
An Khê, Quỳnh Phụ |
12/8 |
thờ Lê Đô tướng quân thời Hai Bà Trưng |
múa kéo chữ, múa bát dật, đánh đu,.. |
|
47 |
Miếu Hòe Thị |
Đồng Tiến, Quỳnh Phụ |
12/8 |
thờ Trần Khánh Dư |
đánh đu, đánh thó,.. |
|
48 |
Gạo (A Sào) |
An thái, Quỳnh Phụ |
20/8 |
Thờ Trần hưng đạo |
|
|
49 |
Đồng Bằng |
An lễ, Quỳnh Phụ |
20/8 |
|
Múa tứ linh, hát chèo, đấu vật |
|
50 |
Mộ Đạo |
Vũ Bình, Quỳnh Phụ |
1/9 |
thờ thủy thần Tam đầu Cửu vĩ |
rước tế. |
|
51 |
chùa Am |
Vũ tây, Kiến Xương |
2/9 |
thờ Nguyễn Minh Không |
Bơi chải |
|
52 |
Côn giang |
Thái hà, Thái Thụy |
9/9 |
Thờ Quách hữu nghiêm |
Đấu võ, đấu gậy, chọi gà |
|
53 |
Lại Trì |
Vũ Tây, Thái Thụy |
10/9 |
thờ Dương Không Lộ (quốc sư triều Lý) |
bơi chải. |
(Ghi chú: Thời gian tính theo âm lịch)
Hội chùa Keo
Chùa Keo thuộc xã Duy Nhất, huyện Vũ Thư. Hàng năm, hội chùa Keo diễn ra trong ba ngày từ ngày 13 đến 15 tháng 9 âm lịch, suy tôn Đức Thiền Sư Không Lộ là người rất giỏi Phật pháp, giỏi cả pháp thuật, có công chữa bệnh cho vua Ly. Lễ hội chùa Keo diễn ra rất đông vui tấp nập với nhiều nghi lễ tôn giáo và một số tập tục cổ truyền để tưởng nhớ đến vị thiền sư có công với nước. Trong lễ hội có nhiều trò vui, hình thức biểu diễn nghệ thuật dân gian đã phản ánh được lối sống của vùng dân cư ven sông, mang màu sắc văn hóa nông nghiệp của đồng bằng Bắc bộ.
Hội Long Vân
Hội Long Vân hàm nghĩa rồng mây gặp hội, ý chỉ sự gặp gỡ may mắn, sự thỏa nguyện những ước vọng lớn lao.
"Thỏa duyên cá nước, gặp hội mây rồng".
"Bây giờ cha tuổi tác này.
Mong con gặp hội rồng mây kịp người"
Cái tên Long Vân đầy ý nghĩa đã được chọn đặt cho hội làng Đồng Phú, xã Độc Lập, huyện Hưng Hà - quê hương của nhà bác học Lê Quí Đôn. Lịch sử hội Long Vân đã trải qua một thời gian dài hơn với nhiều sự kiện không chỉ đơn thuần là một hoạt động văn hóa dân gian truyền thống.
Lần tìm về thế kỷ 18, dân thôn Đồng Phú đã có lệ mở hội chùa từ ngày 12 đến ngày 18 tháng 6 âm lịch hàng năm. Thuở ấy, ngày nào cũng vậy, ở làng tiếng chuông chùa vẫn ngân vang như lời nhắc nhở về giáo lý nhà Phật về sự từ bi bác ái với quảng đại chúng sinh. Truyền ngôn được biết, kể từ đó tới tận những năm đầu thế kỷ 20, làng mới có tục múa rồng, múa cờ, múa gậy, múa xênh tiền và tục rước nước.. trong hội.
Những thập niên đầu thế kỷ 20 dân tộc Việt Nam đang phải chịu ách đô hộ của thực dân Pháp xâm lược và tay sai. Trong thời điểm lịch sử và hoàn cảnh đất nước lúc này, ở Đồng Phú trên cơ sở dựa vào những hoạt động tín ngưỡng, một tổ chức xã hội được thành lập có tên là Ái Hữu nhằm tập hợp những người đồng cảnh ngộ, đoàn kết lại và giúp đỡ nhau trong sản xuất và sinh hoạt hàng ngày. Không bao lâu, hội lại đổi tên là hội Quản Trò cũng giữ tôn chỉ mục đích ban đầu, đồng thời đề ra vấn đề tự quản làng xóm cho các thành viên hoạt động. Những tên được đổi tiếp như Tam Khúc, Tiệp Trung để vận động người giàu giúp đỡ người nghèo, tập hợp những người đồng tâm, đồng nguyện vào hội là nội dung cơ bản trong thời gian này của hội. Năm 1930 trước sự kiện Đảng cộng sản ra đời, tạo bước chuyển vĩ đại cho cách mạng Việt Nam, với hàm ý thể hiện sự vui mừng về duyên kỳ ngộ của nhân dân ta khi có Đảng lãnh đạo, tổ chức hội quyết định đổi tên thành Long Vân và cái tên được giữ mãi cho đến ngày nay.
Trong muôn vàn khó khăn do chiến tranh với đời sống thực tại, người dân Đồng Phú vẫn lưu tâm tới vốn quí văn hóa cổ truyền của làng quê, vì vậy khoảng những năm 1960, nhiều hoạt động văn hóa trong đó có tục múa rồng dân gian được khôi phục. Hội làng lại được gọi đích tên: Long Vân. Từ đây con rồng - hình tượng của sự cao quí được sống lại ở Đồng Phú, ngạo nghễ và kiêu hãnh uốn lượn, biểu diễn những động tác mềm mại điêu luyện trong các lễ hội cách mạng, hội lễ cổ truyền tổ chức ở làng, ở vùng hay ở các trung tâm văn hóa công cộng của tỉnh, cả trong hội chợ triển lãm toàn quốc, tiếng ngày một lan xa, vang xa.
Không chỉ lấy tên Hội Long Vân đặt tên cho hội làng, người Đồng Phú dường như còn muốn thể hiện ý tưởng thầm kín của mình trong việc chuyển dịch thời gian lễ hội từ tháng 6 về tháng 4 âm lịch - đúng dịp giỗ bảng nhãn Lê Quí Đôn - con người mà tên tuổi và sự nghiệp làm rạng rỡ quê hương.
(Vũ Hoàng - Sở VHTT Thái Bình)
Hội đền Đồng Xâm
Đền Đồng Xâm ở xã Hồng Thái, huyện Kiến Xương thờ Nguyễn Kim Lâu, tổ sư nghề chạm bạc Đồng Xâm. Hàng năm lễ hội được mở vào ngày 1, 2, 3 tháng tư âm lịch. Trong lễ hội có trưng bày hàng hóa với những kỹ thuật chạm bạc rất tinh tế; tổ chức bơi trải, diễn chèo, hát ca trù.
Hội đền Đồng Xâm
Đền Đồng Xâm ở xã Hồng Thái, huyện Kiến Xương thờ Nguyễn Kim Lâu, tổ sư nghề chạm bạc Đồng Xâm. Hàng năm lễ hội được mở vào ngày 1, 2, 3 tháng tư âm lịch. Trong lễ hội có trưng bày hàng hóa với những kỹ thuật chạm bạc rất tinh tế; tổ chức bơi trải, diễn chèo, hát ca trù.
Hội đền Đồng Bằng
Lễ hội được mở vào ngày 20 tháng 8 âm lịch và kéo dài 7 ngày tại thôn Đào Động, xã An Lễ, huyện Quỳnh Phụ. Đền thờ Hưng Đạo Vương và hai vị tướng là nhưõng người có công trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên - Mông thế kỷ 13. Lễ hội được tổ chức hàng năm nhằm tưởng nhớ công ơn của ông. Phần hội có rước, đua trải, đấu vật, múa lân, hát chèo. Đây là một lễ hội lớn của tỉnh Thái Bình.
Hội làng Dương Xá
Trần Nhật Hiệu là một danh tướng giỏi, có công với nhà Trần, đã được dân làng Dương Xá tôn thờ làm Thành Hoàng. Lễ hội diễn ra hằng năm vào ngày 5 và 6 tháng 1 âm lịch. Mở đầu lễ hội là các nghi lễ tế thần, lễ Phật, lễ mừng thắng trận. Phần hội có các trò vui, các điệu múa, đánh gậy, bơi trải, hát chầu văn.
Hội làng An Cố
Đình làng An Cố thuộc xã Thụy An, huyện Thái Thụy, thờ Phạm Hải hiệu là Nam Hải Đại Vương. Phạm Hải được dân làng tôn vinh là Thành Hoàng làng vì đã có công khuyến khích dân sản xuất, bảo vệ mùa màng, trừ thiên tai dịch bệnh. Lễ hội hằng năm được mở vào ngày 10 tháng 2 âm lịch. Sau phần tế lễ và rước kiệu là các trò chơi vui như đánh cờ, đấu vật và hát chèo ở sân đình. Điều đặc biệt ở lễ hội này là phần tế lễ có 24 người chầu tế, mũ dạ, đi hia, áo giáp với những nghi lễ riêng.
Hội chùa Am
Chùa Am thuộc xã Vũ Tây, Kiến Xương, thờ ông Khổng Minh Không là quốc sư triều Lý. Lễ hội có thủ tục bơi trải gắn với sự tích Minh Không.
Hội đền Hét
Đền Hét thuộc làng Bích Du, Thái Thụy, thờ tướng công Phạm Ngũ Lão. Tương truyền khi đóng quân tại đây, Phạm Ngũ Lão đã cho quân sĩ luyện tập sức khỏe bằng cách đá cầu. Lễ hội hằng năm tổ chức từ ngày 6 đến 9 tháng ba âm lịch
Hội La Vân
Chùa La Vân ở xã Quỳnh Hồng, huyện Quỳnh Phụ. Làng La Vân là một làng có truyền thống ươm bèo dâu phục vụ cho sản xuất nông nghiệp. Lễ hội diễn ra từ ngày 20 - 26 tháng 3 âm lịch hàng năm. Ngày 20 có lễ rước nước, rước Thành Hoàng từ miếu, rước Thánh từ đền ra để khai hội. Trong hội còn có màn trình nghề cấy bèo dâu rất hấp dẫn, các trò đấu vật, múa lân, cờ tướng.
Cao Bằng @ 16:58 05/09/2009
Số lượt xem: 1208
- Tín ngưỡng của người Thái Bình (05/09/09)
Bài viết mới nhất